Quan hệ lao động theo các loại hình doanh nghiệp - Thực trạng và xu hướng

11:28 | 18/05/2011

Trong nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN ở nước ta, các loại hình doanh nghiệp phổ biến gồm: doanh nghiệp nhà nước, hợp tác xã, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, hộ tiểu chủ, hộ cá thế, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI). Mỗi loại hình doanh nghiệp lại có đặc điểm riêng về quan hệ lao động (quan hệ chủ - thợ).

Thực trạng quan hệ lao động theo các loại hình doanh nghiệp hiện nay
Thứ nhất, quan hệ lao động trong các doanh nghiệp nhà nước
Theo quy định hiện hành, doanh nghiệp nhà nước gồm doanh nghiệp Nhà nước giữ 100% vốn, và doanh nghiệp Nhà nước giữ cổ phần hoặc giữ phần vốn chi phối. Đặc điểm chung của các doanh nghiệp này là Nhà nước với tư cách là chủ sở hữu không trực tiếp thực hiện quyền sở hữu, mà giao cho một cá nhân hoặc một tập thể thực hiện các quyền này. Từ việc tách rời quyền sử dụng khỏi chủ sở hữu đã hình thành một đội ngũ lao động mới tại doanh nghiệp nhà nước các giám đốc và quản lý doanh nghiệp (viên chức quản lý), gồm giám đốc, các phó giám đốc, kế toán trưởng,... được coi là chủ thể sử dụng lao động trong quan hệ với người lao động. “Chủ thể” sử dụng lao động này có tư cách pháp nhân bởi các quyết định hành chính nhà nước.
Thực tế những tư cách pháp nhân này đa số là nhân sự do tổ chức Đảng và chính quyền xem xét bổ nhiệm. Họ chủ yếu xuất thân từ đội ngũ quản lý doanh nghiệp nhà nước, đều là đảng viên, đoàn viên công đoàn, cán bộ viên chức nhà nước, hưởng lương do Nhà nước cấp, và đa số không có cổ phần trong doanh nghiệp nơi họ làm việc. Phần lớn các chủ thể sử dụng lao động này tôn trọng và chấp hành các quy định pháp luật về lao động.
Thứ hai, quan hệ lao động trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
Loại hình doanh nghiệp này gồm doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài và doanh nghiệp liên doanh giữa chủ đầu tư nước ngoài với các chủ thể kinh tế trong nước. Ở đại đa số loại hình doanh nghiệp này, chủ sở hữu không trực tiếp thực hiện quyền sở hữu mà ủy quyền cho một người (hoặc một tập thể) thực hiện dưới những hình thức được pháp luật thừa nhận, như quyết định bổ nhiệm tổng giám đốc, phó tổng giám đốc, kế toán trưởng, trưởng phòng nhân sự,... Người quản lý được coi như chủ thể sử dụng lao động tại doanh nghiệp.
Nhưng quan hệ lao động trong loại hình doanh nghiệp này cũng có sự khác biệt nhất định giữa doanh nghiệp có vốn đầu tư từ các nước tư bản phát triển, các công ty xuyên quốc gia có uy tín trên thế giới với doanh nghiệp có vốn đầu tư từ một số nước Đông Á, Đông Nam Á. Tại doanh nghiệp có vốn đầu tư từ các nước tư bản phát triển và một số công ty xuyên quốc gia có uy tín, người quản lý thường đạt tính chuyên nghiệp cao, có năng lực và kinh nghiệm phong phú. Việc quản lý doanh nghiệp thuận lợi cho việc xây dựng quan hệ lao động theo hướng hài hòa, lành mạnh, tiến bộ. Tại doanh nghiệp có vốn đầu tư từ Hàn Quốc, Đài Loan, Trung Quốc lục địa và một số nước Đông Nam Á, giám đốc điều hành là người của chủ đầu tư mà kỹ năng, kinh nghiệm quản lý thường mạng đậm văn hóa quản lý của chính quốc, thậm chí của chủ đầu tư, nên chưa đạt độ chuẩn mực quốc tế cần thiết. Nếu người quản lý được chủ đầu tư thuê, tức là có sự tách rời quyền chủ sở hữu và quyền quản lý, thì người quản lý chỉ được giao trách nhiệm trong một phạm vi nhất định. Do đó thường phát sinh hiện tượng tiêu cực trong việc chấp hành Bộ luật Lao động và Luật Công đoàn của Việt Nam. Quan hệ lao động trong không ít trường hợp bị rơi vào tình trạng lách luật, rũ bỏ trách nhiệm của người sử dụng lao động, đặc biệt khi cần phải giải quyết xung đột về lương, thưởng và thời gian làm việc của người lao động. Do không được chủ đầu tư ủy quyền nên người quản lý doanh nghiệp thiếu sự chủ động cần thiết trong việc xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ.
Thứ ba, doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần
Doanh nghiệp sở hữu tư nhân có 2 loại hình: đơn sở hữu (doanh nghiệp tư nhân) và đa sở hữu (công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần). Trong những năm gần đây, loại hình doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn phát triển mạnh về số lượng. (Hiện lên đến khoảng 450.000 doanh nghiệp). Đặc điểm của các loại hình doanh nghiệp này là: quy mô vốn nhỏ bé, quy mô lao động hạn chế, thời gian lao động không ổn định, kinh nghiệm quản lý doanh nghiệp chưa nhiều, cách thức quản lý chưa thuần thục, chưa chuyên nghiệp. Từ đó nảy sinh rất nhiều vấn đề nan giải trong việc cải thiện tình cảnh của người lao động và xây dựng quan hệ lao động lành mạnh, tiến bộ.
Thứ tư, về về hợp tác xã
Quy mô các hợp tác xã ở nước ta không lớn. Theo thống kê vào năm 2007 - 2008, kinh tế tập thể chỉ chiếm tỷ trọng 0,71% tổng doanh thu của tất cả các loại hình kinh doanh, và đóng góp 6,1% GDP của cả nước. Quan hệ lao động trong các hợp tác xã có sự đan xen giữa quyền lợi xã viên và quyền lợi của người lao động. Cho đến nay nhìn chung vẫn còn lúng túng, bất cập trong nhận thức về hình thức sở hữu và cách thức xử lý các vấn đề về quyền của xã viên và quyền của người lao động theo hướng ”tự nguyện, bình đẳng, dân chủ, cùng quản lý, cùng hưởng lợi”.
Phương hướng thực hiện quan hệ lao động tại các loại hình doanh nghiệp trong thời gian tới
Phương hướng chung theo tinh thần Chỉ thị số 22-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng về “Tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo việc xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ trong doanh nghiệp” là giải quyết đúng mối quan hệ lợi ích trên cơ sở cộng đồng trách nhiệm giữa Nhà nước, người lao động và người sử dụng lao động nhằm pháp chế hóa quan hệ lao động theo hướng hài hòa, ổn định và tiến bộ. Việc thực hiện phương hướng chung cần phù hợp với mỗi loại hình doanh nghiệp.
Trước hết, đối với khu vực doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước, do sự đẩy mạnh việc chuyên môn hóa đội ngũ giám đốc, quản lý doanh nghiệp và thu hẹp số lượng lao động cùng với quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp, nên quan hệ lao động sẽ thiên về sự định vị rõ hơn hai chủ thể: chủ sử dụng lao động và người lao động. Quan hệ lao động giữa hai chủ thể đó sẽ diễn biến theo chiều hướng pháp chế hóa; tức là chỉ tôn trọng và thực thi những gì pháp luật quy định. Vì thế phải có giải pháp nâng cao vai trò của công tác tuyên truyền, vận động để phát huy ý thức đoàn kết, tương trợ trong doanh nghiệp, và hạn chế tối đa tâm lý làm thuê, đặc biệt tại các công trường xây dựng, có chiều hường gia tăng trong một bộ phận người lao động.
Tiếp đó, đối với khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, quan hệ lao động đương nhiên cũng diễn biến theo chiều hướng pháp chế hóa, song còn tùy thuộc vào năng lực kiểm tra giám sát việc thực thi Bộ luật lao động và Luật Công đoàn từ phía các cơ quan nhà nước và kết quả xây dựng công đoàn cơ sở vững mạnh. Do đó, cần tổng kết công tác giải quyết đình công của người lao động, và hòa giải tranh chấp lao động giữa chủ sử dụng lao động và người lao động. Trong đó cần chú ý đến tính khác biệt nhất định giữa doanh nghiệp có vốn đầu tư từ các nước tư bản phát triển, các công ty xuyên quốc gia có uy tín trên thế giới với doanh nghiệp có vốn đầu tư từ một số nước Đông Á, Đông Nam Á.
Cuối cùng, đối với khu vực doanh nghiệp đa sở hữu (công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn) do quy mô vừa và nhỏ, kinh nghiệm quản trị doanh nghiệp vẫn còn hạn chế,... nên quan hệ lao động từ cả hai phía: người sử dụng lao động và người lao động - vẫn sẽ phát sinh không ít vấn đề cần được tháo gỡ. Do vậy đây sẽ là khu vực mà các cơ quan quản lý nhà nước cần đầu tư nghiên cứu và tập trung giải quyết nhiều nhất trong thời gian tới, nhằm xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ gữa chủ sử dụng lao động và người lao động.
 

PGS.TS. Nguyễn Thanh Tuấn

0 Bình luận
Tắt Telex Vni
  
theo luồng sự kiện